Album: Chúc mừng năm mới
Ngày upload: 14/02/2007 30 ảnh 11305 lượt xem0 bình luận
Tết Nguyên đán

Tết Nguyên đán (Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới; giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Tết Nguyên đán Việt Nam từ buổi "khai thiên lập địa" đã tiềm tàng những giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ qua bốn mùa xuân-hạ-thu-đông và quan niêm "ơn trời mưa nắng phải thì" chân chất của người nông dân cày cấy ở Việt Nam... Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri tâm tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý (ăn quả nhờ kẻ trồng cây) và tình nghĩa xóm làng ...

Ông Táo hay thần bếp là người mục kích sự làm ăn của mọi nhà. Theo tập tục hàng năm ông Táo phải thu xếp lên trời vào ngày 23 tháng chạp để tâu bày mọi việc dưới trần thế với Ngọc Hoàng. Bởi thế nên, trong ngày này, mọi gia đình người Việt Nam đều làm mâm cơm đạm bạc tiễn đưa "ông Táo ". Ngày ông Táo về chầu trời được xem như ngày đầu tiên của Tết Nguyên đán. Sau khi tiễn đưa ông Táo người ta bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên, treo tranh, câu đối, và cắm hoa ở những nơi trang trọng để chuẩn bị đón tết.

Cùng với tranh (tranh dân gian, câu đối), hoa quả là yếu tố tinh thần cao quý thanh khiết của người Việt Nam trong những ngày đầu xuân. Miền Bắc có hoa Đào, miền Nam có hoa Mai, hoa Đào, hoa Mai tượng trưng cho phước lộc đầu xuân của mọi gia đình người Việt Nam. Ngoài cành Đào, cành Mai, mấy ngỳa tết người ta còn "chơi" thêm cây Quất chi chít trái vàng mọng, đặt ở phòng khách như biểu tượng cho sự sung mãn, may mắn, hạnh phúc...

Tết trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài các thứ bánh trái đều không thể thiếu mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở miền Bắc thường gồm có nải chuối xanh, quả bưởi, quả cam (hoặc quít), hồng, quất. Còn ở miền Nam, mâm ngũ quả là dừa xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm khát khao của con người vì sự đầy đủ, sung túc. Ngày Tết, dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... Từ trẻ tới già ai ai cũng biết, sau đây là một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.

Tống cự nghênh tân: Cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ rác rưởi, cùng làng xóm dọn dẹp nhà thờ, lau giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng. Con cháu trong nhà từ phút giao thừa trở đi được nhắc nhở không được nghịch nghợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy... anh chị, cha mẹ cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt mặt mừng, vui vẻ niềm nở, chúc nhau những điều tốt lành.

Hái lộc, xông nhà, chúc tết, mừng tuổi: Ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khoẻ, thành đạt hơn năm cũ. Nhiều nhà tự đi hái lộc ở chốn đình chùa, nơi tôn nghiêm về nhà, tự xông nhà hay dặn trước người "nhẹ vía" mà mình thích đến xông nhà. Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng dè dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra chuyện gì không hay lại đổ tại mình "nặng vía". Chính vì vậy, sáng mùng Một lại ít khách.

Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết con cháu mừng tuổi ông bà cha mẹ. Ông bà cũng chuẩn bị ít tiền để mừng tuổi con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc tết thường là sức khoẻ, phát tài phát lộc, những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau "tai qua nạn khỏi" hay "của đi thay người" nghĩa là trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Nhưng nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta thường kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.

Phong tục ta ngày Tết việc biếu quà Tết, tỏ ân nghĩa tình cảm, học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà tết không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: không có quà ngại không đến...

Ở nước ta, vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thất tuần, bát tuần, cửu tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày Tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui.

Cũng vào dịp đầu Xuân, người có chức tước khai ấn, học trò, sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, người buôn bán mở hàng lấy ngày. Sĩ, Nông, Công, Thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thông, làm ăn suôn sẻ. Sau ngày mùng Một, dù có mải vui tết cũng chọn ngày "Khai nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mùng Một tốt thì chiều mùng Một bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo không kể mùng Một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình một sản phẩm, một dụng cụ gì đó. Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.

Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì người bố cho phép vui chơi. Tam cúc, cờ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đến lễ khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn hoá vàng.

Vì sao có tục kiêng hót rác đổ đi trong ba ngày Tết: Trong "Sưu thần ký" có chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo được thuỷ thần cho một con hầu tên là Như Nguyên, đem về nhà được vài năm thì giàu to. Một hôm, nhân ngày mùng Một Tết, Âu Minh đánh nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đó nhà Âu Minh lại nghèo đi. Kể từ đó kiêng không hót rác ngày Tết.
Giao thừa

Lẽ trời đất có khởi thuỷ phải có tận cùng, một năm có bắt đầu ắt phải có kết thúc, bắt đầu vào lúc giao thừa, cũng lại kết thúc vào lúc giao thừa.

Giao thừa là gì? Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh nghĩa là cũ giao lại, mới đón lấy. Chính vì ý nghĩa ấy, nên hàng năm vào lúc giao tiếp giữa hai năm cũ, mới này, có lễ trừ tịch

Lễ trừ tịch

Trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt đầu qua năm mới. Vào lúc này, dân chúng Việt Nam theo cổ lệ có làm lễ trừ tịch. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ trừ tịch còn là lễ để " khu trừ ma quỷ", do đó có từ "trừ tịch". Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ giao thừa

Sửa lễ giao thừa

Người ta cúng giao thừa tại các đình, miếu, các văn chỉ trong xóm cũng như tại các tư gia. Bàn thờ giao thừa được thiết lập ở giữa trời. Một chiếc hương án được kê ra, trên có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm: chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã, đôi khi có thêm chiếc mũ của Đại Vương hành khiển.

Đến giờ phút trừ tịch, chuông trống vang lên, người chủ ra khấu lễ, rồi mọi người kế đó lễ theo, thành tâm cầu xin vị tân vương hành khiển phù hộ độ trì cho một năm nhiều may mắn. Các chùa chiền cũng cúng giao thừa nhưng lễ vật là đồ chay. Ngày nay, ở các tư gia người ta vẫn cúng giao thừa với sự thành kính như xưa nhưng bàn thờ thì giản tiện hơn, thường đặt ở ngoài sân hay trước cửa nhà.

Tại sao cúng Giao thừa ngoài trời

Dân tộc nào cũng coi phút giao thừa là thiêng liêng. Các cụ ta quan niệm: Mỗi năm Thiên đình lại thay toàn bộ quan quân trông nom công việc dưới hạ giới, đứng đầu là một ngài có trí như quan toàn quyền. Năm nào quan toàn quyền giỏi giang anh minh, liêm khiết thì hạ giới được nhờ như: được mùa, ít thiên tai, không có chiến tranh, bệnh tật...Trái lại, gặp phải ông lười biếng, kém cỏi, tham lam thì hạ giới chịu mọi thứ khổ.

Các cụ hình dung phút ấy ngang trời quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã (nhưng mắt trần ta không nhìn thấy được) thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì. Những phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà Trời đã cai quản mình năm cũ và đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà..

Lễ cúng Thổ Công

Sau khi cúng giao thừa xong, các gia chủ cũng khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà. Lễ vật cũng tương tự như lễ cúng giao thừa.

Mấy tục lệ trong đêm trừ tịch

Sau khi làm lễ giao thừa, các cụ ta có những tục lệ riêng mà cho đến nay, từ thôn quê đến thành thị, vẫn còn nhiều người tôn trọng thực hiện.

Lễ chùa, đình, đền: Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầu phúc, cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và gia đình và nhân dịp này người ta thường xin quẻ thẻ đầu năm.

Kén hướng xuất hành: Khi đi lễ, người ta kén giờ và hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp may mắn quanh năm.

Hái lộc: Đi lễ đình, chùa, miếu, điện xong người ta có tục hái trước cửa đình, cửa đền một cành cây gọi là cành lộc mang về ngụ ý là "lấy lộc" của Trời đất Thần Phật ban cho. Cành lộc này được mang về cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô.

Hương lộc: Có nhiều người thay vì hái cành lộc lại xin lộc tại các đình, đền, chùa, miếu bằng cách đốt một nắm hương, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm và bình hương bàn thờ nhà mình. Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt được lấy từ nơi thờ tự về tức là xin Phật, Thánh phù hộ cho được phát đạt quanh năm.

Xông nhà: Thường người ta kén một người "dễ vía" trong gia đình ra đi từ trước giờ trừ tịch, rồi sau lễ trừ tịch thì xin hương lộc hoặc hái cành lộc ở đình chùa mang về. Lúc trở về đã sang năm mới và ngưòi này sẽ tự "xông nhà" cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình. Nếu không có người nhà dễ vía người ta phải nhờ người khác tốt vía để sớm ngày mồng một đến xông nhà trước khi có khách tới chúc tết, để người này đem lại sự may mắn dễ dãi.

Quanh mâm cỗ Tết

Người Hà Nội có tiếng là khéo léo và lịch lãm trong việc chế biến, nấu nướng và thưởng thức các món ăn. Vào mỗi dịp Tết đến, sự khéo léo ấy càng được thể hiện rõ. Từ đầu tháng chạp, các bà nội trợ đã chuẩn bị sắm sửa để lo Tết: gạo nếp, đỗ xanh gói bánh, nấu chè... rồi đến các loại đồ khô như măng, miến Tàu, bóng bì, nấm hương. Và không quên chuẩn bị vại dưa hành. Nhà nào cũng mua một quả gấc chín đỏ để thổi xôi cúng tất niên, vì màu đỏ tươi của gấc được coi là may mắn, đem lại mọi điều tốt lành cho cả năm.

Ngày 27 Tết, nhiều nhà bắt đầu ngâm đỗ, rửa lá dong. Rồi đãi đỗ, vo gạo, ướp thịt để gói bánh, không khí tất bật, náo nhiệt, tiếng gọi nhau í ới. Đêm 29, các nhà rục rịch bắc nồi, nhóm lửa để luộc bánh, mấy anh em tụm năm, tụm ba, người đánh tam cúc, kẻ chơi lơ khơ, hay chạy đi chạy lại lăng xăng làm "chân sai vặt của người lớn". Bà và mẹ xào thịt thủ hoặc thịt chân giò, trộn mộc nhĩ để gói giò. Chị thoăn thoắt đảo hạt bí sao cho khỏi cháy.

Có một món các bà nội trợ đảm đang không thể quên, là nồi cá kho riềng. Một lớp riềng thái mỏng lót đáy nồi, những miếng cá được rán qua xếp lên trên, muốn ngon hơn thì thêm ít thịt dọi lẫn vào để cà thêm ngọt và béo. Miếng cá kho riềng thơm, thịt chắc, đậm đà ăn với bánh chưng, dưa hành thật lạ miệng, mang đậm hương vị Tết. Sáng 30, bánh chưng được vớt ra, nén xong treo từng chùm. Đàn bà, con gái tập trung vào bếp làm thịt gà, nấu nướng.

Mâm cỗ Tết cổ truyền của người Hà Nội không thể thiếu món giò lụa cho thêm phần sang trọng. Cả mâm, đủ lệ bộ là bốn bát, sáu đĩa. Bát bóng nấu với chân tẩy, thịt lợn nạc và nước dùng gà, sang hơn thêm ít tôm nõn. Chân tẩy là các loại củ như su hào, cà rốt được thái mỏng theo hình hoa cho ngon và đẹp mắt. Bát miến nấu lòng gà. Bát măng kho ninh với chân giò điểm vài củ hành hoa lên trên. Còn sáu đĩa là: đĩa xôi, thịt gà luộc, thịt đông, đĩa xào, đĩa giò lụa (hoặc giò xào) cá kho riềng, thêm đĩa nộm và dưa hành trắng muốt.

Một số nhà giàu có ở Hà Nội xưa, còn có thêm một số món ăn cao cấp như: long tu, măng tây, vây, bóng thủ, nấm thả, chim hầm... Ngoài thịt gà luộc còn có gà rán hay thịt kho tàu, hạnh nhân xào, lạp xưởng, trứng muối, địa nộm bằng rau câu trộn với thịt. Người Hà Nội vốn chuộng hình thức, nên mâm lễ ngày Tết được bày biện khéo và đẹp mắt. Đĩa xôi gấc đỏ tươi, các món nấu được rắc hành, rau thơm lên trên xanh mướt. Đĩa nộm nhiều màu sắc hài hòa, rau mùi xanh, ớt đỏ, lạc rang vàng và su hào trắng, chỉ nhìn củng thấy ngon. Đó là mâm cỗ Tết của người Hà Nội, không chỉ ngon, bổ, mà nói như các cụ là còn được "Ăn cả bằng mắt".

Còn ở Huế, ngày Tết gói bánh tét. Bánh tét được gói bằng lá cuối với các nguyên liệu như bánh chưng, chỉ khác là gói dài thành đòn như bó giò. Khi ăn cắt thành từng khoanh, ở giữa nhân đậu xanh và thịt mỡ nổi lên như những nhụy hoa. Ngoài ra, Tết ở Huế còn một số loại bánh đặc trưng như bánh phu thê (susê), bánh hỏi, bánh sen chấy, bánh măng, bánh dừa mận.

Các món ăn mặn trong cỗ Tết ở Huế cũng có nhiều cái khác Hà Nội. Ngoài những món thông thường như thịt gà, thịt lợn... Người Huế đặc biệt thích các món chua nhẹ dễ tiêu như món gỏi gồm: đu đủ xanh, giá sống, vừng, lạc, thịt ba chỉ, tôm, da bò rá trộn giấm, đường, tỏi, ớt, ngò. Cỗ Tết còn có các món đặc biệt là món xà lách gân bò, chả tôm, nem bọ lụi, ăn một lần thật khó quên.

Tết ở Sài Gòn không lạnh như Hà Nội. Ăn Tết cũng không cầu kỳ như Hà Nội và cũng không nhiều món phức tạp như ở Huế. Món ăn ngày Tết đơn giản, "khoái khẩu là được". Tết mà thiếu bánh phồng, bánh tráng thì coi như "ăn Tết một nửa". Những chiếc bánh nở tròn, xốp, thơm phức, làm bằng nếp được nướng bằng lửa rơm. Khác với miền Bắc, miền Nam ăn Tết bằng bánh tét, có nơi còn trộn thêm tôm khô, lạp xưởng vào để gói bánh. Mâm cỗ Tết bao giừ cũng có bánh tét, thịt kho, dưa giá, kiệu muối và nem bì. Cỗ Tết của người Sài Gòn nhiều đồ nguội, chỉ có hai bát nấu là chân giò hầm với mấy vị thuốc bắc, món mướp đắng bỏ ruột nhồi thịt, hầm nhừ.

Người Sài Gòn ăn thịt gà không chặt mà thích xé phay. Gà luộc xé miếng, trộn giấm kèm hành tây thái mỏng thêm các loại rau, gia vị, thơm ngon. Mâm cỗ Tết bao giờ cũng phải có món chả giò (là món gần giống như nem rán ngoài bắc) gói nhỏ bằng ngón tay cái, chiên vàng rộm trông thật "bắt mắt"... Sau "ba cái ngày Tết", ăn uống "nặng nề", người Sài Gòn ra giêng có cái thú với món cháo cá nấu ám, bổ dưỡng mà nhanh nhẹ, đưa đẩy mấy ngày xuân lai rai.

Nói về mâm cỗ Tết trên đất nước ta thật phong phú, nói sao cho đủ. Trong những cái chung nhất lại ánh lên những nét riêng, độc đáo. Quanh mâm cỗ Tết là lúc ông bà, cha mẹ, con cháu họp mặt vui vẻ, quây quần bên nhau, tưởng nhớ tổ tiên, là tình cảm gia đình đầm ấm, tình người lan tỏa trong sắc xuân.

Bánh Tét miền Nam

Nếu ở miền Bắc trong ngày Tết, giỗ kỵ, các lễ hội cổ truyền có bánh dày, bánh chưng để dâng cúng tổ tiên, thì ở Nam Bộ bánh tét được liệt ngang hàng, coi như bánh Tổ.

Dân Nam Bộ chế biến bánh tét một cách tài tình và phong phú, tuỳ theo địa phương mà thêm thắt gia vị cho thích khẩu. Có chỗ gói nếp với nhân đậu xanh, còn gia đình khá giả thêm vào nhân đậu xanh một miếng thịt theo chiều dài đòn bánh. Cũng có chỗ không thuần nếp mà trộn lẫn đậu đen để tăng chất lượng vừa dẻo, vừa bùi.

Đặc biệt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngày xưa những gia đình giàu có, con cháu đông đảo, thường gói bánh tét đòn rất lớn. Khi tét bánh ra, khoang bánh tròn trịa, nằm gọn gàng trong lòng một đĩa kiểu trông khá đẹp mắt. Trung bình một đòn bánh đường kính cả tấc tây và độ nặng khoảng hơn một kí lô.

Công việc gói bánh khá tỉ mỉ. Trước tiên, đem bếp và đậu đen vo sạch để ráo nước. Lá dứa đâm nhuyễn lọc lấy nước trộn hoà vào nếp. Đậu xanh cà, đãi vỏ để sống. Thịt ba rọi (nửa nạc nửa mỡ) cắt vuông vắn đặt theo chiều dài đòn bánh đã được ướp trước cho thắm vào hành, muối, đường. Có như thế, thịt vừa trong, vừa đẹp để khi tét bánh ra, thịt hoà tan vào nhân đậu xanh, ăn nghe vừa béo của thịt, vừa bùi của đậu, vừa dẻo của nếp, vừa thơm ngon.

Mỗi lần gói bánh chí ít cũng 5-7 chục đòn, tuỳ theo khả năng tài chính của mỗi gia đình. Hai đòn cột thành một cặp, có dây quai để xách cho tiện, khi có làm quà tặng bà con một cặp vừa đẹp, vừa hợp với tập quán vì năm mới phải đủ đôi, chẵn cặp, ý chúc cho bà con đủ vợ, đủ chồng là niềm hạnh phúc thịnh vượng. Bánh khi hấp phải thường xuyên canh chừng lửa, có khi từ đầu hôm hấp suốt đêm đến 6,7 giờ sáng mới vớt ra.

Để bánh mau chín, các bà nội trợ thường áp dụng một số mẹo vặt, vắt chanh vào nếp hoặc ngâm nếp với nước khóm một thời gian chừng vài ba giờ. Không được ngâm lâu, sợ nếp rã thành bột. Lúc gói bánh, xếp lá chuối ở hai đầu, bẻ thành 4 góc rồi nức đòn bằng cọng lá chuối phơi khô cho dẻo, cắt nhỏ như dây lạc. Hiện nay, theo thời hiện đại, cũng có chỗ nức đòn bằng dây chỉ nhựa.

Nhiều gia đình ăn chay, gói bánh tét nhân ngọt (không có thịt) nhân đậu xanh có trộn đường; hoặc bánh tét nhân chuối cũng được ưa thích, chuối thay cho nhân đậu xanh, đòn nhỏ một trái chuối, còn đòn lớn ba trái chuối xiêm chín có thêm đường để tăng độ ngọt cho nhân, khi chín có màu đỏ tím. Tét khoanh bánh ra trong lạ mắt, màu đỏ tím chính giữa nổi bật bên ngoài màu nếp trắng phau.

Còn một loại bánh tét được chế biến khá đặc biệt nữa là bánh tét thập cẩm, vẫn bánh tét nếp, phần nhân được nâng cấp có trứng, tôm khô, lạp xườn, hột sen, thịt giò Bắc thảo, đậu phộng, nấm đông trộn chung với nhân đậu xanh. Dĩ nhiên, loại bánh này ăn rất ngon và thực hiện quả là tốn kém.

Trong dịp lễ tết cổ truyền, giỗ kỵ... người Nam Bộ thường làm bánh tét đãi khách và làm quà biếu xén bà con gây thiện cảm. Những ngày đầu năm tét bánh ra đãi khách ăn với thịt kho tàu, chấm nước mắm, thật đậm đà hương vị ngày Xuân. Bánh tét ra giêng còn dư, nhằm đổi khẩu vị, người ta thường đem chiên với dầu hoặc mỡ phi tỏi, ăn thấy lạ miệng sau khi đã chán các món cao lương mỹ vị. Đây cũng là một loại lương khô rất tiện dụng cho du khách đi xa, leo núi hoặc người hành quân lâu ngày, bởi có thể để cả mười ngày, nửa tháng không bị mất phẩm chất.

Vại dưa hành

... Đó là thứ hành không để làm gia vị cho thịt thà, bún phở. Nó sẽ hoá thân trong mặn mòi, ép xác để thành món dưa hành không thể thiếu trong những ngày Tết cổ truyền. Bà mẹ mua một rổ về, ngâm trong nước gio một ngày đêm, rồi bóc vỏ già nhưng để nguyên cái cuống còn chút rễ, một là để cho đỡ hăng, hai là để cho khỏi ủng, và chuẩn bị cho vại dưa hành ăn tết. Mẹ hướng dẫn cô con gái: Phải để hành ở dưới, đặt dưa, từng tầu rửa sạch, lên trên, rồi mới nén. Cô con gái khăng khăng cãi lại: Để hành lên trên chứ mẹ, vì hành ngon hơn, ăn hết nhiều hơn, như thế dễ lấy hơn. Bà mẹ độ lượng cười: đúng là hành ăn ngon hơn, chóng hết hơn, nhưng dưa lại chóng "ngấu" hơn, khi hành chín ăn được vớt ra liễn nhỏ, mỗi bữa lấy từ liễn nhẹ nhàng hơn, không phải bê cái cối đá nặng chình chịch, không phải thò ngập cánh tay vào vại. Và như thế cũng không ảnh hưởng gì đến tàu cải, cải ngồng, thứ cải Đông Dư bên Gia Lâm, và ta sẽ có món ngon kỳ lạ, tuy là vai phụ trên mâm cỗ, chỉ là để đưa đẩy, điểm xuyết, nhưng nếu không có nó thì dù mâm cao cỗ đầy, dù giò lụa, thịt gà, ninh mọc... cũng sẽ chóng ngấy, ngại ngần cho đôi đũa. Phụ mà hoá chính. Bởi cái lưỡi vào lúc ngại cái béo cái nồng, mà gặp một vị chua mềm, chua thanh, thảnh thơi ngòn ngọt ngoài dư vị của củ hành vàng tươi, trong trắng nõn, nghe ròn tan giữa hai hàm răng, mang dáng hình hơi dẹt của sức nặng đá đè hàng tháng, món dưa hành ấy sẽ thành hồi trống của đêm hội làng, thành thứ son tươi cho đôi môi cho cô gái, thành chén nước lã trên bàn thờ, thanh sạch múc ngay ngoài bể nước mưa, cạnh những hương hoa quý giá khác...

Tết đến, trừ một vài đô thị lớn có dịch vụ, hàng chục chum to nơi chợ lớn, thì hầu như nhà ai cũng làm một vại dưa hành gồm dưa cải và hành củ. Hành trắng ngon hơn hành tía, hành tía hăng hơn, lâu "chín" hơn.

Dưới đáy vại dưa, bao giờ cũng là mấy tấm mía róc sạch vỏ, màu trắng ngà như một thứ ngà voi, xếp ngang xếp dọc vài lớp trước khi những hành củ được nằm trong vại, dùng mía và giát giường, hành là người khách lưu trú mấy chục ngày đêm. Hương mía và vi ngọt tạo thành thứ men, không làm say nhưng kích thích như một hương nước hoa thoang thoảng cho ta thấy người đã khuất mà lòng còn mê mẩn. Đồng thời mía còn làm cho dưa hành có màu vàng chanh, vàng tươi, vàng ửng, màu vàng làm đẹp cho mâm cỗ tết, kích thích cái nhìn thực khách từ giây phút đầu tiên nâng chén.

Cái vại hành ấy tháng ba là vại cà nén mặn ăn cả mùa hè. Còn tháng Một, nó là vại dưa hành quen thuộc, yên lòng cùng muối mặn, không còn một chút mùi kháng mùi nồng nào, nó tinh khiết như sinh ra để người nghèo chuyên cho nó một hoàn cảnh ấy, vượt xa những thứ đồ đồng, đồ nhôm, đồ nhựa tân kỳ nhưng không thích hợp, không thể sánh bằng đất, nước non qua cửa lò ngùn ngụt, thành tiếng kêu như chuông, như khánh.

Chuẩn bị ăn tết, ngoài con lợn trong chuồng thì vại dưa hành được nghĩ đến đầu tiên, xuất hiện đầu tiên dưới mái nhà nghèo, trong những cơn gió mùa đông bắc đầu tiên đổ vào báo hiệu một hai tháng nữa là xuân đến.

Và có lẽ chính vại dưa hành ấy cũng sẽ hết sau cùng, dù xuất hiện đều đều trong các bữa tết và sau tết, trong mâm cơm thường đến cỗ tất niên, mâm cỗ mừng xuân hay mâm cỗ "hoá vàng" hôm mồng bốn để chia tay người nhà lại ra đi, năm sau mới trở về. Và ra giêng, hành gắp lên đĩa, còn dưa lại hoá thân lần nữa thành món canh dưa, nấu với lạc nhân giã dập, nấu với cá lẹp anh đánh giậm bán ở chợ đầu làng, hay nấu với thịt bò chỗ cái bắp hoa... đều rất ngon như ngự thiện. Chỉ có tết mới có dưa hành. Và nếu không có dưa hành không thành cỗ tết, như cúng mà không thắp hương, như ăn hỏi mà không có trầu cau, như yêu nhau mà chẳng ngỏ lời... Chả thế mà nó đã vào ca dao:

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ...

Ông com lê, cụ cà vạt, bà áo nhung, chắc ai đã là người Việt Nam, biết đón cái tết Việt Nam xum họp, biết ăn ngọn rau muống luộc với quả cà, thì không thể không yêu mến món dưa hành. Và ai chưa ăn dưa hành, chắc chưa phải người Việt Nam. Bản sắc chứa đựng nếp sống dân tộc đó, chẳng cần tìm đâu xa, chẳng cần lý luận dài dòng trong miếng ăn, hớp uống...

Cha đời con gái làng La
Làm dưa dưa khú, muối cà cà thâm...

Không phải con gái ở đây vụng về, mà ngược lại, họ quá đảm đang, tần tảo, hết vào khung cửi lại xuôi ngược đông đoài mua tơ, bán lụa, nên chẳng còn thì giờ lo bếp núc, tương cà. Mọi việc đều phó thác cho "cánh đàn ông", nên sinh ra thế.

Ngày thường món thịt quay phải kèm theo củ kiệu muối. Có hôm kiệu lại quá sống, có hôm lại quá chua. Dưa hành không thế. Bữa đầu tiên cho đến bữa cuối cùng, diễn ra hàng tháng, miếng dưa còn mang hình một mảnh buồm cánh dơi căng gío, miếng hành vàng tươi, đã dẹt vết thời gian, vẫn cứ dìu dịu, thơm thơm, chua giòn, nâng đỡ mọi món ăn khác, đẹp lòng người già, con trẻ thật thật tình.

Đĩa dưa hành trên mâm cơm mâm cỗ, bao giờ cũng được bóc nõn, cắt cỏ cái chùm rễ nhỏ, bỏ đi cái áo bên ngoài, nên có tinh tươm, toả ra cái lời mời mọc mơ hồ... và hầu như thành lệ, người ta ngồi vào mâm không xục đũa bới tung món giò lụa hoặc thịt gà quay, mà trước hết, nhẹ nhàng gắp củ hành nén ấy đưa lên thưởng thức như một thứ khai vị, một thử thách tài làm cỗ của chủ nhà, vừa tỏ ra thanh lịch, khảnh ăn.

Nhỏ bé, rẻ tiền nhưng món dưa hành đã thành cái "thần" của mâm cỗ Tết. Có đúng thế không

Thú chơi ngày Tết

Tiến hành những nghi thức lễ tổ tiên và lễ đình chùa, chuẩn bị chu đáo những món ăn ngon ngày Tết của Việt Nam không thể thiếu những trò chơi trong hội xuân của cộng đồng. Tùy đặc điểm và điều kiện, hoàn cảnh sống, từng vùng có những trò chơi riêng, nhưng do quá trình giao lưu, cũng có nhiều trò mang tính phổ biến. Vì thế, bên cạnh những Bắt chạch trong chum, thả chim câu, đua ngựa, đua cà kheo... thường giới hạn ở một số nơi, lại có các trò đánh đáo, đánh phết, tung còn, kéo co, đấu vật, đá cầu, đánh đu, đánh cờ người, bắt vịt, leo cầu ùm... được tiến hành trên phạm vi rộng. Tuy nhiên, còn những cách chơi khác gần gũi đời sống tinh thần, bộc lộ tư tưởng và tình cảm rõ nét hơn, tạm gọi là thú chơi. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc sơ lược vài loại hình này.

Đó là những Câu đối viết bằng bút lông lên giấy đỏ, một thể loại văn học cô đọng, hàm súc, lời ý chắt lọc, đối nhau từng chữ, từng âm và tổng thể của hai vế. Chủ đề phải nhất quán thể hiện những khát vọng cao đẹp một cách cụ thể, xác thực. Dùng ít từ là tiểu đối, mỗi vế bảy từ là kiểu đối thơ, nhiều từ là dạng đối phú - có thể kéo dài như bài phú, Câu đối viết chữ Hàn hoặc chữ Nôm cách điệu, vận dụng điển tích hoặc lối nói dân dã, bao hàm cả nghĩa đen và nghĩa bóng để dễ hiểu và gợi liên tưởng. Lớp người bình dân, bởi vậy không xa lạ, ưa dán ở cửa ngõ, cột hiên, cột nhà và hai phía bàn thờ, coi là thú chơi tao nhã. Ngày nay, câu đối vẫn được ưa chuộng, có mặt trên nhiều trang báo Tết và người ta chọn in những câu hay đem phát hành.

Tranh Tết dân gian xuất hiện từ lâu, các dòng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), Hàng Trống (Hà Nội), Kim Hoàng (Hà Tây) và Sình (Huế) nổi tiếng nhất. Màu sắc tranh lấy các chất liệu sẵn có trong tự nhiên, gồm năm thuốc cái chính chế biến thành chín mầu. Đề tài phân ra tranh tín ngưỡng, tranh lịch sử và cổ tích, tranh giáo huấn, tranh về nghề nghiệp và cảnh vật, tranh châm biếm, tranh hài hước, tranh chúc tụng, tranh trấn trạch, tranh mô tả sinh hoạt nông thôn... Tranh dân gian Việt Nam giản dị, hồn nhiên gợi cảm, có phong cách độc đáo.

Chơi hoa ngày Tết biểu lộ tình cảm gắn bó thiên nhiên, là tập quán tốt của người Việt Nam. Miền Bắc có hoa đào đỏ thắm, miền nam có mai vàng rực rỡ, hải đường, mẫu đơn, cúc, hồng, lan, huệ được cắm trong lọ, tỏa hương thơm ngào ngạt bên các cành đào hoặc mai và bát thủy tiên trong suốt. Cây quất sum suê những chùm quả vàng mọng, trồng trong chậu sành men da lươn, men hoa lam đặt giữa nhà, tượng trưng sự đủ đầy, no ấm. Khách thưởng ngoạn hoa và cây cảnh thấy được tài khéo léo chọn lựa, xếp sắp hài hòa của gia chủ.

Tết cũng là những buổi trình diễn nghệ thuật sân khấu của các phường chèo, phường tuồng, phường múa rối, phường ca trù và gánh hát cải lương... Họ là những nghệ nhân xuất thân từ tầng lớp lao động, tập hợp dưới tay một ông trùm, bà cả tài hoa, phân vai tập luyện và di lưu diễn khắp các làng, xã. Hát múa có dàn nhạc đệm đi đôi với diễn là yêu cầu cơ bản nhằm đáp ứng đòi hỏi xem và nghe của người thưởng thức. Những cảnh đời, những số phận được tái tạo từ hiện thực xã hội, phân định rạch ròi thật giả, hướng tới lý tưởng thẩm mỹ lành mạnh, tạo mối đồng cảm và có sức hấp dẫn mạnh mẹ.

Mùa xuân tràn trề sinh khí, mùa của đôi lứa trao duyên, mùa hội tụ của âm thanh, nhịp điệu vang vọng trong Những bài ca tình yêu. Trống, cồng, chiêng, sênh, phách, khèn, sáo, kèn lá, các loại đàn tứ, nguyệt, tam thập lục, bầu, hồ, nhị, tính, krông-pút, tơrưng, v.v... là những nhạc cụ truyền thống giàu âm sắc chắp cánh cho những vũ điệu và lời ca, tiếng hát.

Người Thái nâng múa biểu siễn xòe khăn, xòe quạt, xòe nón, xoè nhạc, xoè hoa duyên dáng, bay bổng. Người Tày đắm say trong hát lượn cọi, lượn slương. Người Nùng đằm thắm với hát sli. Người Mông linh hoạt, sôi động trong múa khèn, thổi đàn môi đi hội gàu tào. Người Mường có xéc bùa sử dụng giàn cồng đủ bộ diễn tấu kết hợp hát bài chúc Phác rác và hát thường rang.

Cư dân Tây Nguyên có múa rông chiêng, hát mũn, a-nhông kiêu, kể khan, H’Ămon. Người Khmer Nam Bộ hát A-dây, Người Việt hát Xoan, ghẹo, quan họ, đò đưa, trống quân, múa hát dô giậm, Xuân Phả, phường vải, hát giặm, bội, bài chòi.

Thú chơi ngày Tết bộc lộ bản lĩnh, tính cách, thị hiếu và bản sắc dân tộc, không ngừng được cải tiến, bổ sung, nâng cao trong đời sống đương đại.

Ngày xuân với mốt chơi thư pháp

Nói đến thư pháp thì ai cũng nghĩ ngay đến hình ảnh ông thầy đồ áo dài khăn đóng nghiêm trang múa ngọn bút lông để tạo nên những nét chữ mực Tàu thần kỳ trên tấm liễu đỏ. Và rồi những nghệ sĩ thư pháp người Hoa xuống "tấn" dùng "nội công bay nhảy" như phim kiếm hiệp để viết trên những tấm liễu, tấm phướn khổ rộng dài cả chục thước vậy. Những tác phẩm thư pháp hoàn toàn có giá trị nghệ thuật không thua gì những tác phẩm hội họa nổi tiếng trên thế giới nhưng không phải ai cũng ưa chuộng việc chọn cho mình vài bức thư pháp để treo trong phòng làm việc, phòng khách... Vậy mà bước vào thiên niên kỷ mới này, thư pháp được nhiều người tìm mua để trưng tạo nên một mốt chơi mới rất tao nhã và mang tính nghệ thuật cao, phải chăng những giá trị văn hóa của con người sẽ không bao giờ mất đi. Mốt chơi thư pháp bây giờ người ta không chỉ thuần túy là câu chữ, hàng chữ, câu đối có ý nghĩa nữa mà như một cách tâm niệm về một câu nói hay đầy ý nghĩa. Những bức thư pháp được lồng trong khung trang nhã, thường là có viền màu đen, màu đỏ, hay màu xám bạc, rồi được đặt trang trọng tại phòng khách, phòng làm việc với 4 hoặc 6 ngọn đèn halogen chiếu vào trọng tâm và các góc cạnh nhằm nổi bật phần hồn của từng nét chữ thư pháp. Trong khi những người Hoa đều thích những bức thư pháp như "Mã đáo thành công", "Long Mã tinh thần"... thì người Việt lại thích những bức có vẻn vẹn chữ "Phúc", "Tâm", "Nhẫn",... giá trị của một bức thư pháp thường đi kèm với lịch sử của nó cũng như lịch sử của chủ nhân nó, và có thể từ vài trăm ngàn đến vài trăm USD tùy thuộc vào những yếu tố vừa nêu.

Bên cạnh thư pháp viết bằng chữ Hán theo phong cách trung Hoa thì trong khoảng gần một năm nay ở TP.HCM cũng đã xuất hiện nhiều bức thư pháp viết bằng tiếng Việt độc đáo về nét chữ lẫn về nội dung được nhiều người chơi thư pháp tìm mua khá nhiều. Người khơi nguồn cho thư pháp viết bằng tiếng Việt không ai khác hơn là ông Nguyễn Thanh Sơn. Ông Sơn xuất thân từ một kiến trúc sư và ông có công ty xây dựng riêng, nhưng ông chỉ cho rằng mình là người yêu thích thư pháp chứ không phải là nhà thư pháp như nhiều người nghĩ về ông như vậy. Thông qua gần 100 tác phẩm thư pháp tiếng Việt thuộc các thể loại thơ, danh ngôn... được chọn lọc kỹ lưỡng trên các chất liệu giấy, vải, kính... như "Làm việc gì trước hết phải biết nghĩ đến nhân quả", "Vinh nhục như bong bóng nước", "Cõi tạm", "Phù vân",... tạo cho người xem luôn phải suy nghĩ chiêm nghiệm lại cuộc đời mình hướng đến một cuộc sống đúng đắn hài hòa hơn.

So với thư pháp tiếng Hán, thư pháp tiếng Việt hoàn toàn rất mới mẻ nhưng vẫn thu hút nhiều người tập viết lẫn người chơi sưu tập vì hầu như ai cũng tâm niệm rằng áp dụng nghệ thuật thư pháp vào chính nét chữ của dân tộc mình là một niềm tự hào, hãnh diện cũng như thích thú biết bao. Và bằng chứng là hiện nay có trên 70 hội viên đang sinh hoạt tại Câu lạc bộ những người yêu thích thư pháp tiếng Việt thuộc Trung tâm Văn hóa Quận 1.

Những bức thư pháp tiếng Việt của ông Nguyễn Thanh Sơn cũng như các hội viên câu lạc bộ những người yêu thích thư pháp tiếng Việt đã góp thêm điểm son cho văn hóa Việt Nam nói riêng. "Tôi đang bàn với nhà tạo mẫu áo dài Liên Hương để thể hiện những bức thư pháp tiếng Việt trên áo dài Việt Nam". Ông Nguyễn Thanh Sơn bộc lộ tâm huyết của mình với thư pháp tiếng Việt như vậy trong kế hoạch phát triển mốt chơi thư pháp qua năm 2001. Có lẽ những nét chữ viết bằng cọ, có nét lớn, có nét nhỏ uyển chuyển có thần, chữ và bút hòa vào nhau như một mà người xem cảm nhận qua từng nét chữ, từng lời trong câu được viết nên trên vải, giấy, rồi hút cả vào trong tâm hồn chắc là sự hấp dẫn của mốt chơi thư pháp - một lối chơi tao nhã, lắng đọng, hướng về những cội nguồn văn hóa dân tộc với nhiều giá trị lớn lao.
Tranh Tết dân gian

Đông Hồ, làng nhỏ miền quê tôi bên bờ sông Đuống giống như bao làng khác, mái rạ bờ tre. Những người nông dân bao đời lam lũ cấy lúa trồng cà, bàn tay chai sần dầm trong đất. Nhưng chính những bàn tay ấy, từ xa xưa, đã vẽ nên những bức tranh tuyệt đẹp, làm hình thành dòng hội họa dân gian nổi tiếng. Và Đông Hồ trở thành một địa danh văn hóa quen thuộc với mọi người. Người họa sĩ đồng quê Đông Hồ thể hiện tâm hồn xứ sở lên ngọn bút. Dân làng gọi họ là người "ra mẫu tranh". Họ vẽ tranh bằng bút lông chấm mực tàu thể hiện trên giấy bản. Những đường nét tài hoa "thần bút" đã hình thành trong cơn cảm hứng ngất ngây. Sau đó tranh nét được khắc trên ván gỗ thị vàng ươm. Chỉ khắc trên gỗ thị vì gỗ thị mềm, mịn, dai. Ngọn dao khắc sắc lẻm tung hoành trên phiến gỗ thị làm nên những bản khắc quý giá.

Bản khắc được in trên giấy điệp. Tờ giấy điệp cũng là một kỳ công của kỹ thuật chế tạo giấy đời xưa. Đông Hồ có những đoàn người lên rừng tước vỏ cây dó. Vỏ dó được giã nhuyễn, ninh kỹ, hớt lấy những sợi tơ mềm như mạng nhện. Sợi tơ đan dệt nên tờ giấy xốp, dai, mềm mại như lụa, gọi là giấy dó.

Những đoàn trai Đông Hồ khác lại ra miền biển tìm mua vỏ sò, hến, trai, điệp... đem về nung như nung vôi. Chất liệu ấy vụn như cám và có màu óng ánh xa-phia gọi là điệp. Điệp trộn với hồ quết lên giấy dó thành tờ điệp.

Và tranh Hồ được in trên tờ điệp. Họa sĩ dân gian Đông Hồ xưa tô màu tranh bằng chất liệu hoàn toàn lấy trong thiên nhiên. Lá tre đốt ủ kỹ làm màu đen. Lá chàm cho màu xanh. Rỉ đồng cho màu lam. Nhựa thông cho màu hổ phách. Quả giành giành cho màu vàng. Son đồi cho màu đỏ. Vỏ trứng giã nhỏ trộn hồ cho màu trắng. Chất liệu tự nhiên ấy đã làm nên sắc màu kỳ diệu quý giá của bức tranh dân gian Đông Hồ.

Dòng hội họa Đông Hồ qua bao đời đã sản sinh ra hàng trăm tác phẩm nổi tiếng. Bộ Tố nữ vẽ bốn "hoa hậu" Việt thời xưa - đó là những Venus phương Đông. Tranh Hứng dừa có sắc màu vừa trữ tình vừa hài hước. Chàng trai trèo lên trẩy dừa ném xuống cho cô gái. Cô không đón bằng tay mà tốc váy đón dừa. Nhìn tranh người xem không khỏi mỉm nụ cười vui. Bức Trạng Chuột kiệu anh đi trước, võng nàng đi sau diễn tả vẻ tưng bừng của ngày vinh quy. Bức Thầy đồ Cóc là ảnh hình của "nền giáo dục" thời xưa. Bức Đánh ghen là tiếng cười phê phán chế độ đa thê.

Tranh Đông Hồ nhiều, nhưng quen thuộc nhất, nổi tiếng nhất có lẽ là tranh Gà, tranh Lợn. Hãy để ít phút giây ngắm bức tranh Lợn lạ lùng của nền hội họa dân gian. Bức Lợn nái ăn dáy thật đẹp. Lợn được cách điệu lạ mắt. Đặc biệt là cái khoáy tròn âm dương. Làm sao có thể nhìn những cái xoáy lông trên mình con lợn thành cái khoáy âm dương của triết học cổ được! Đó thật sự là sự thần tình của người họa sĩ dân gian. Đó là thần bút! Bức Đàn lợn mẹ con cũng vậy. Trên mình con lợn nào cũng có khoáy âm dương!

Thời xưa, tháng chạp là tháng bán tranh Tết. Khắp các chợ cùng quê đều có những người đàn bà Đông Hồ nón ba tầm, áo dài thắt vạt, đòn gánh cong quẩy hai bồ tranh đi bán.

Người đi sắm hàng Tết thường không bao giờ bỏ qua hàng tranh. Dăm tờ xu lẻ đã mua được một bức Tiến tài, tiến lộc, Phú quý, Vinh hoa về dán cửa nghênh xuân gửi gắm ước mơ. Người nông dân ước mơ cụ thể hơn. Một bức tranh Gà Lợn dán vách, cũng là sự gửi gắm đợi chờ năm mới gà sinh sôi đầy chuồng.

Tranh Đông Hồ có từ bao giờ, không ai biết. Chỉ biết từ xa xưa lắm rồi, cứ sang tháng một - chạp, thuyền các xứ Đông xứ Đoài đã về áp mạn đê sông Đuống cất tranh (mua buôn) đem về các vùng quê bán lẻ. Nghề tranh tùy thời, khi thịnh khi suy, nhưng chẳng bao giờ tàn lụi hẳn

Tục lễ đầu xuân

Tục lễ Động thổ

Lễ Động Thổ bắt đầu ở Trung Quốc sau truyền sang Việt Nam. Động thổ nghĩa là động đất, và trong khi động đất phải có lễ cúng Thổ Thần để trình xin bắt đầu động đến đất cho một năm mới. Hàng năm, sau ngày mồng ba Tết, các làng thường làm lễ Động Thổ để cho dân làng có thể đào cuốc xới được. Các bậc kỳ lão và quan viên được cử làm chủ tế và bồi tế. Lễ vật gồm hương đăng, trầu rượu, y phục và kim ngân đồ mã. Trong buổi lễ, ông chủ tế cuốc mấy nhát xuống đất để lấy một cục đất đặt lên bàn thờ, "tường trình" với Thổ Thần xin cho dân được động thổ. Sau lễ động thổ dân làng mới được động tới đất. Ai cuốc xới trước lễ động thổ bị dân làng bắt vạ.

Lễ Khai hạ

Theo tục lệ Việt Nam, ngày mồng bảy tháng Giêng là ngày hạ cây nêu. Cây nêu trồng trong năm, khi sửa soạn đón tết cùng với cung tên bằng vôi trắng vẽ trước cửa nhà để "trừ ma quỷ", nay được hạ xuống. Lễ hạ nêu còn được gọi là lễ Khai Hạ. Nhân dịp này, ngoài lễ giữa trời cúng Trời Đất, người ta còn sửa lễ cúng Gia Tiên, cúng Thổ Công và thần Tài. Thường sau ngày lễ này, mọi công việc thường xuyên mới được bắt đầu trở lại.

Lễ Thần nông

Thần nông tức là vị hoàng đế Trung Hoa đầu tiên đã dạy dân nghề làm ruộng. Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong sự được mùa và nghề nông phát đạt. Trên các quyển lịch hàng năm của người Trung Hoa thường có vẽ một mục đồng dắt một con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, còn con trâu tượng trưng cho nghề Nông. Hình mục đồng cũng như con trâu thay đổi hàng năm tuỳ theo sự ước đoán của cơ sở dự báo khí tượng về mùa màng năm đó tốt hay xấu. Năm nào được mùa, Thần Nông giầy dép chỉnh tề, còn năm nào đói kém, Thần Nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ đi giày có một chân. Con trâu đổi màu tuỳ theo hành của mỗi năm, vàng, đen, trắng, xanh, đỏ đúng với Kim, Mộc, Thuỷ, Hỏa, Thổ. Hàng năm, vào ngày Lập Xuân tại triều đình xưa cũng như tại các tỉnh có tục tế và rước Thần Nông. Người ta nặn trâu và tượngThần Nông có dáng vẻ và màu sắc đúng với sự ước lượng về mùa màng năm đó. Sau đó lập đài để rước trâu và tượng Thần Nông tới làm lễ tế. Sau mỗi cuộc tế, trâu và tượng Thần Nông được khiêng cất vào kho hoặc đem chôn.

Lễ Tịch điền

Lễ Tịch điền còn gọi là lễ Hạ điền do chính vua Thần Nông đặt ra. Cũng như các nghi lễ khác, lễ Tịch Điền của người Tàu đã du nhập sang ta. Hàng năm vào đầu xuân, nhà vua lại tự thân cày mấy luống đất để làm gương cho dân chúng và cử hành lễ Tịch Điền. Tiếp sau vua, các hoàng thân, các quan văn võ, các chức sắc, bộ lão sở tại cũng ra cày. Tại các tỉnh, các xã cũng có lễ Tịch Điền. Ở tỉnh, quan tỉnh mở đầu việc cày và ở xã là vị chức sắc cao nhất trong xã. Tùy từng triều đại việc cử hành lễ Tịch Điền có lúc long trọng, lúc đơn giản và ở mỗi địa phương cũng có những tục lệ riêng.

Lễ Thượng Nguyên hay Cúng rằm tháng Giêng

Lễ Thượng Nguyên vào ngày rằm tháng Giêng. Từ triều đình đến dân chúng đều có lễ Phật trong ngày này. Ta có câu: "Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng Giêng". Tục ta tin rằng ngày rằm tháng Giêng, đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng thành của các tín đồ phật giáo. Trong dịp này chùa nào cũng đông người tới lễ bái.

Lễ Khai ấn

Các ấn được lau chùi trong năm, ngoài xuân bộ lễ theo tục cũ cũng được chọn ngày lành, giờ tốt để làm lễ khai ấn nghĩa là dùng ấn đóng lên một công văn, chỉ dụ. Thường văn bản đầu tiên được đóng ấn là bản văn tốt lành. Tục khai ấn này, tại các tỉnh, các phủ, huyện, châu, xã xưa kia mỗi viên chức có ấn đều được chọn ngày khai ấn và sửa lễ cúng vị thần giữ về ấn tín trong dịp lễ khai ấn.

Mùa xuân thưởng võ: bắn nỏ và đua ngựa

Trong các thế vận hội, bắn nỏ là một tiết mục trong chương trình thi đấu. Không rõ tài nghệ bắn của các vận động viên nước ngoài ra sao chứ ở Việt Nam ta, đồng bào miền núi bắn nỏ khá giỏi, đặc biệt có kiểu truyền tên cho nhau rất độc đáo. Những người đi săn thường tổ chức thành phường, cùng nhau lùng bắn thú. Bỗng một người đi săn nào đó thiếu tên trong lúc con thú bị thương tìm đường chạy trốn. Thế là người đi săn hú dài xin được tiếp tên, liền sau đó, anh ta ở tư thế bất động, đầu cúi xuống. Vút! Vút! Phập! Phập! Mũi tên từ một cây cao nào gần đấy hay từ bờ suối bên kia cắm phập vào búi tó của anh. Anh nhanh chóng rút mũi tên ra, giương nỏ và "prắc" mũi tên bay đi rất ngọt hạ con thú. Vậy là người nhận tên tiếp tế phải bình tĩnh, nếu anh ta ngọ nguậy đầu thì mũi tên đang đi thẳng để cắm vào búi tó có thể lệch đường bay cắm ngay vào cổ. Và người truyền tên, lẽ tất nhiên phải bắn giỏi nghĩa là phải làm chủ được mũi tên, tính toán được sức gió, đưa mũi tên tới trúng đích, sai một ly mũi tên có thể xuyên qua gáy. Nếu mũi tên có tẩm độc làm xây xát một tí da thôi, thế là bản án tử hình đã được ký!

Nỏ là một loại vũ khí của đồng bào miền núi. Đối với nhiều người, cuộc đời của họ gắn liền với cuộc đời của cây nỏ. Từ nhỏ, em bé đã tập bắn nỏ. Khi anh ta lấy vợ, cây nỏ cũng tham dự vào hạnh phúc. Ở tỉnh Lai Châu, các dân tộc Khu Sung, Si La vẫn còn duy trì tập quán cũ, đòi hỏi trong ngày dạm ngõ, chàng rể nếu không nộp đủ sáu cái đuôi con sóc rừng thi chưa được nhà gái ưng thuận.

Trong ngày Tết, hội thi tài bắn nỏ xuyên "còn" có sức hấp dẫn rất lớn. Tung "còn" không chỉ là giao duyên giữa trai gái. Quả "còn" là mục tiêu cho mũi tên nữa. Quả "còn" màu sắc sặc sỡ được tung lên cao. Trong lúc quả "còn" còn đang lơ lửng trên không, anh trai làng giương nỏ, bật lẫy, thế lả mũi tên vút lên, xé gió, xuyên qua quả "còn". Tiếng hò reo vang dậy núi rừng. Tập nỏ, khó nhất là bắn mục tiêu di động. Mục tiêu có khi là lá cây. Lá cây được đánh dấu. Không được bắn lúc gió ngưng. Khi thổi mạnh, lá cây lật lên bay phần phật như cánh chim, chủ nỏ mới được nhả mũi tên cho nó vút đi! Mục tiêu có khi là con cá bơi dưới suối. Mục tiêu có khi là con sóc đang nhảy như bay từ cây nọ qua cây kia. Người bắn nỏ giỏi muốn trổ tài thiện xạ của mình không bắn chết sóc mà chỉ bắn rụng đuôi sóc! Bắn nỏ là một môn thể thao đòi hỏi phải có sức mới giương nổi cánh nỏ, phải có tài, có tài mới làm chủ và điều khiển được đường bay của mũi tên.

Trong các môn thể thao cổ truyền của miền núi, bắn nỏ, đua ngựa, và vừa cưỡi ngựa phi nước đại vừa bắn nỏ v.v... là những môn được nhiều ngưòi ưa thích và tham gia. Mấy năm nay, cuộc đua ngựa thường diễn ra trên sân vận động thành phố Thái Nguyên. Hàng chục nghìn người nô nức đến xem. Các kỵ sĩ cho ngựa đi quanh sân chào khán giả rồi cho ngựa đi "nước kiệu băm" (khoảng 15km/giờ) sau đó, cho ngựa phi nước đại thi đuổi nhau, vượt nhau. Kỵ sĩ ngồi như gắn vào yên ngựa. Ngựa sải chân chạy, bờm tung bay trước gió. Thật là khỏe và đẹp! ở hai vòng đua cuối, các kỵ sĩ vừa cho ngựa phi vừa bắn bóng bay. Bóng bay thay thế cho quả "còn", nỏ được thay bằng súng thể thao. Thật là hấp dẫn!

Nuôi ngựa, dạy ngựa là một nghề đòi hỏi nhiều công phu. Trường đồ tri tuấn mã, đường dài mới biết ngựa hay. Tuy vậy, người sành về ngựa, không cần đường dài, chỉ liếc mắt cũng đánh giá được con ngựa này tốt hay tồi. Họ liếc mắt xem trong chuồng, con ngựa xoay mình ra sao. Sau khi cho ngựa chạy nhanh rồi cho ngựa dừng lại đột ngột, họ xem mũi ngựa phập phồng ra sao, nghe hơi thở của ngựa, nghe nhịp đập của tim.v.v... Họ có nhiều kiến thức về ngựa nên quan sát rất nhanh, "liếc mắt" cũng nắm được đặc điểm của ngựa.

Muốn đua ngựa cừ, kỵ sĩ phải rèn người, rèn ngựa.

Phải đóng hàm thiếc cho ngựa, có nghĩa là phải đưa mọi chương trình tập luyện vào vòng kỷ cương. Kỵ mã phải có tính trầm tĩnh, làm chủ được bản thân.

























Xem theo
Trình chiếu
30
Ngày: 14/02/2007
  • 485 lượt xem
  • 0 bình luận
29
Ngày: 14/02/2007
  • 266 lượt xem
  • 0 bình luận
29
Ngày: 14/02/2007
  • 360 lượt xem
  • 0 bình luận
28
Ngày: 14/02/2007
  • 348 lượt xem
  • 0 bình luận
27
Ngày: 14/02/2007
  • 328 lượt xem
  • 0 bình luận
25
Ngày: 14/02/2007
  • 339 lượt xem
  • 0 bình luận
24
Ngày: 14/02/2007
  • 424 lượt xem
  • 0 bình luận
23
Ngày: 14/02/2007
  • 371 lượt xem
  • 0 bình luận
22
Ngày: 14/02/2007
  • 449 lượt xem
  • 0 bình luận
21
Ngày: 14/02/2007
  • 455 lượt xem
  • 0 bình luận
20
Ngày: 14/02/2007
  • 600 lượt xem
  • 0 bình luận
19
Ngày: 14/02/2007
  • 335 lượt xem
  • 0 bình luận
18
Ngày: 14/02/2007
  • 1561 lượt xem
  • 0 bình luận
17
Ngày: 14/02/2007
  • 678 lượt xem
  • 0 bình luận
16
Ngày: 14/02/2007
  • 751 lượt xem
  • 0 bình luận
15
Ngày: 14/02/2007
  • 430 lượt xem
  • 0 bình luận
14
Ngày: 14/02/2007
  • 742 lượt xem
  • 0 bình luận
13
Ngày: 14/02/2007
  • 653 lượt xem
  • 0 bình luận
12
Ngày: 14/02/2007
  • 1495 lượt xem
  • 0 bình luận
11
Ngày: 14/02/2007
  • 937 lượt xem
  • 0 bình luận
10
Ngày: 14/02/2007
  • 1133 lượt xem
  • 0 bình luận
09
Ngày: 14/02/2007
  • 658 lượt xem
  • 0 bình luận
08
Ngày: 14/02/2007
  • 908 lượt xem
  • 0 bình luận
07
Ngày: 14/02/2007
  • 899 lượt xem
  • 0 bình luận
06
Ngày: 14/02/2007
  • 724 lượt xem
  • 0 bình luận
05
Ngày: 14/02/2007
  • 839 lượt xem
  • 0 bình luận
04
Ngày: 14/02/2007
  • 1331 lượt xem
  • 0 bình luận
03
Ngày: 14/02/2007
  • 1281 lượt xem
  • 0 bình luận
02
Ngày: 14/02/2007
  • 2076 lượt xem
  • 0 bình luận
01
Ngày: 14/02/2007
  • 1943 lượt xem
  • 0 bình luận
TAGs
Bình luận
wildflower How are you now?
QUẢNG CÁO
QUẢNG CÁO
Share URL
HTML Code
BB Code